Tổng quan

 

I. Khái niệm :

            Ung thư phổi là một bệnh ung thư (ác tính) bắt nguồn từ các mô của phổi, các tế bào lót đường hô hấp. Ung thư phổi bắt nguồn từ khi các tế bào phổi bình thường trở nên bất thường, thường là sau khi một loạt các đột biến, và bắt đầu phân chia ra khỏi kiểm soát

            Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong những bệnh nhân ung thư ở nam giới. Ở Việt Nam theo số liệu ghi nhận tại một số vùng ung thư phổi đứng hàng đầu và chiếm 20% trong tổng số hàng trăm loại ung thư.

II. Các triệu chứng nhận biết :

            - Ho kéo dài, thở ngắn, ho có đờm lẫn máu và đau ngực cũng có thể là dấu hiệu chỉ điểm của ung thư phổi

            - Một thời gian sau bệnh nhân có thể gầy sút, mệt mỏi, thở nông, khàn giọng, khó nuốt, đau xương, thở khò khè và tràn dịch màng phổi.

            Cần chú ý rằng có khoảng 13% bệnh nhân không biểu hiện bất cứ một triệu chứng nào như trên khi khối u của họ được phát hiện.

III. Các xét nghiệm :

Có nhiều kỹ thuật được sử dụng để phát hiện ung thư phổi.

            - Chụp X quang lồng ngực.

            - Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực có thể xác định chính xác hơn vị trí của khối u, kích thước và biết được khối u đã phát triển ra ngoài phổi hay chưa.

            - Có thể chẩn đoán bằng cách sinh thiết, phương pháp sinh thiết thông thường nhất là dùng ống nội soi phế quản. Đưa một ống nhỏ, mềm, dẻo qua mũi hay miệng sau khi đã gây tê, đi qua khí quản vào phổi. Phương pháp này được sử dụng trên 80% bệnh nhân và 2/3 có kết quả sinh thiết dương tính.  Xét nghiệm đờm tìm tế bào ung thư chỉ có 1/3 số ca có kết quả dương tính. Nếu khối u ở rìa phổi hay ở xa phế quản thì nội soi phế quản hay xét nghiệm đờm có thể không phát hiện được. Hoặc dùng một kim nhỏ xuyên qua thành ngực vào vùng bất thường sau khi đã gây tê tại chỗ. Phương pháp này chẩn đoán được trên 90% bệnh nhân. Đôi khi cần thiết phải tiến hành sinh thiết thêm nếu các phương pháp trên không thành công. Những mẫu sinh thiết lấy được, được nhuộm và soi dưới kính hiển vi quang học.

IV. Những nguyên nhân gây ung thư phổi

            - Hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ung thư phổi. 90% bệnh nhân ung thư phổi do hút thuốc lá. Mặc dù còn 4% bệnh nhân bị ung thư phổi mà không hút thuốc, nhưng vài người trong số họ đã hít một số lượng đáng kể khói thuốc lá (hít khói của người hút thuốc lá). 90% bệnh nhân ung thư phổi đã hút hơn 10 điếu thuốc lá/ ngày trong 20 năm.

            - Những công nhân tiếp xúc với bụi silic có nguy cơ cao bị ung thư phổi. Nguy cơ này sẽ tăng lên nhiều lần nếu bệnh nhân có hút thuốc lá.

            - Những tiếp xúc nghề nghiệp khác liên quan tới ung thư phổi bao gồm tiếp xúc với quá trình luyện thép, ni-ken, crôm và khí than.

            - Tiếp xúc với tia phóng xạ có nguy cơ bị các bệnh ung thư trong đó có cả ung thư phổi. Những công nhân mỏ uranium, fluorspar và hacmatite có thể tiếp xúc với tia phóng xạ do hít thở không khí có chứa khí radon.

            - Ngoài ra,  nguy cơ ung thư phổi liên quan đến các chất gây ô nhiễm không khí. Các nghiên cứu gần đây thấy ung thư phổi có liên quan yếu tố gen.

V. Ung thư phổi di căn.

Ung thư phổi có thể di căn và nó thường di căn theo chính đường hô hấp ở trong cơ thể, có nghĩa là nó lan ra các phần khác ở trong phổi và tạo thành các khối u.

Các tế bào ung thư có thể đi qua đường máu và di căn qua đường bạch huyết đến các hạch bạch huyết. Ung thư phổi như vậy thì khả năng di căn của nó cao và nó có thể di căn đến các phủ tạng thông thường như là gan, xương, não. Và ở một bệnh nhân ung thư phổi khi mà đã di căn đến các phủ tạng khác thì người ta xếp đó vào giai đoạn 4, là giai đoạn muộn.

Vì vậy, khả năng chữa khỏi cho những người ở giai đoạn này là khó. Nhưng bệnh nhân vẫn cần phải được điều trị. Bệnh nhân được điều trị ở trong giai đoạn này người ta gọi là điều trị giảm nhẹ để nhằm mục đích kiểm soát và kéo dài cuộc sống của bệnh nhân, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chẳng hạn như các bệnh nhân này thường có những đau đớn do những tổn thương di căn gây ra thì người ta phải kiểm soát đau để làm cho bệnh nhân giảm đau hoặc chúng ta phải điều trị cho bệnh nhân để đề phòng những biến chứng có thể xảy đến với bệnh nhân ví dụ như di căn xương sẽ có thể dẫn đến gãy xương.

Vì vậy, người ta vẫn áp dụng những phương pháp điều trị hiện đại, đặc biệt là hóa chất để điều trị cho bệnh nhân nhưng không phải là chữa khỏi mà là kéo dài, để kiểm soát bệnh và để nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm nhẹ các đau đớn ở giai đoạn cuối.

VI. Các phương pháp điều trị

Phẫu thuật loại bỏ khối u:

            Có hiệu quả nhất khi khối u còn nhỏ và chưa có di căn. Bệnh nhân có thể trạng tốt để phẫu thuật. 20% bệnh nhân được điều trị theo phương pháp này. Những bệnh nhân được phẫu thuật lấy toàn bộ khối u có thời gian sống thêm lâu dài.

Điều trị tia xạ:

            Phương pháp này được áp dụng cho 35% bệnh nhân. Mục đích là phá hủy khối u khi nó còn nhỏ (thường có đường kính 6 cm) và không có di căn. Đối với những khối u lớn thì nó làm giảm sự phát triển của khối u. Phương pháp điều trị này kéo dài đời sống của bệnh nhân nhưng ít khi chữa khỏi bệnh.

Điều trị bằng hóa chất:

            Có tác dụng tốt ở hầu hết bệnh nhân ung thư phổi loại tế bào nhỏ và đôi khi ở những loại ung thư phổi khác. Những tiến bộ gần đây về hóa trị liệu đã làm giảm đáng kể những tác dụng phụ so với trước đây.

Điều trị hỗ trợ:

            - Chỉ áp dụng cho khoảng 1/3 bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn không điều trị được bằng các phương pháp kể trên, bao gồm chăm sóc bệnh nhân, điều trị triệu chứng và làm giảm đau.

            - Cần có một chế độ ăn thích hợp, nghỉ ngơi, chăm sóc về mặt y tế và giải trí đôi khi giúp ích cho bệnh nhân.

            Ở hầu hết các bệnh nhân ung thư, kết quả điều trị tốt nhất khi ung thư được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị mới bao gồm đưa chất đồng vị phóng xạ vào phế quản, điều trị bằng tia xạ, điều trị bằng laser, các thuốc hóa chất mới, những nghiên cứu sinh học phân tử đang được tiến hành và đã thu được một số kết quả.

VII. Chế độ dinh dưỡng:

1. Về kiêng kỵ trong ăn uống:

            - Trước hết, phải kiêng thuốc lá: Hút thuốc làm cho hàm lượng vitamin ở từng bộ phận của đường hô hấp xuống thấp, khiến chứng ung thư khuếch tán hoặc bệnh tình nặng thêm. Hơn nữa, thuốc lá là thứ tân nhiệt, chứa những tạp chất độc hại như nicotin, gây ra sự kích thích xấu đối với phổi và khí-phế quản, nhất là đối với những trường hợp đang ủ bệnh ung thư. Nó khiến niêm mạc đường hô hấp tăng tiết nhiều, đờm ngưng tích tụ không ngừng, đồng thời còn tăng thêm những chất gây ung thư.

             - Phải tùy theo triệu chứng và bệnh tình của từng người. Nếu triệu chứng chủ yếu là đờm nhiều, có thể căn cứ vào màu sắc của đờm, độ đặc của đờm và có dễ khạc ra hay không để quyết định kiêng kỵ những thứ gì.

            - Đờm trắng ở trạng thái bọt, dễ nhổ ra, kèm theo rêu lưỡi trắng và nhầy, hoặc sợ lạnh: Kiêng ăn các thứ dầu mỡ ngậy béo, quá bổ dưỡng như thịt mỡ, gà béo, vịt béo, tôm, cua, cá hồi, các hải sản tanh. Không uống các thứ lạnh, kiêng lạc, khoai lang vì chúng gây đờm, làm bệnh nặng thêm.

            - Nếu đờm vàng, tương đối đặc, khó khạc nhổ, kèm theo rêu lưỡi vàng và nhầy, nên chọn các thức ăn vừa hóa được đờm lại vừa có tác dụng thanh nhiệt như quả lê, đường phèn hầm củ cải, quả hồng... Kiêng ăn các thức ngậy béo, cay (hạt tiêu, bột hạt cải, bột cari, ớt, rượu), đồ hun nướng. Kiêng hồ đào, lạc.

            - Nếu trong đờm có lẫn máu hoặc khạc ra máu thì ngoài việc kiêng kỵ nghiêm ngặt các thức trên, bệnh nhân còn phải kiêng các thức thô ráp và cấm dùng đồ rán, nướng, quay, hun…

            - Nếu thể chất hư nhược, nên ăn uống các thứ ôn hòa, giàu dinh dưỡng mà dễ tiêu hóa như thịt lợn nạc, thịt bò hầm suông, cháo hạt sen và ý dĩ. Trong khi tẩm bổ cũng cần coi trọng vấn đề kiêng kỵ. Nếu bụng trướng, đại tiện lỏng, rêu lưỡi trắng và nhầy, phải dùng ít hoặc kiêng dùng sữa bò, đường, dưa muối, trái cây sống lạnh, dầu mỡ ngậy béo. Nếu miệng khát, người gầy, lưỡi đỏ, khạc ra máu thì cấm ăn các thức cay, động hỏa, hại âm. Nếu người hư nhược đến độ phải dùng các thuốc bổ như nhân sâm thì cần kiêng ăn cải củ, uống trà đặc.

            - Người bị ung thư phổi đã xạ hoặc hóa trị nếu thấy chán ăn hoặc tiêu chảy thì nên ăn uống thanh đạm, dùng các thứ tươi mới, không có dầu mỡ, ăn thứ bổ vừa phải. Việc không chú ý kiêng kỵ trong ăn uống chẳng những gây thêm phản ứng nặng sau khi điều trị bằng phóng xạ và hóa chất mà còn làm suy thoái công năng tỳ vị, khiến bệnh tình nặng hơn.

2. Những thực phẩm nên ăn:

            Trái cây giàu flavonoids, các sản phẩm sữa ít chất béo, thực phẩm có chứa lutein cao như rau bina, cải lá, cải xanh , cà chua và trà xanh… đó là tất cả những loại thực phẩm có thể giúp giảm nguy cơ phát triển ung thư phổi. Hãy sử dụng chúng trong bữa ăn hàng ngày của bạn nếu bạn đã được chẩn đoán có nguy cơ mắc căn bệnh này.

            Ngoài những loại thực phẩm đặc biệt này, không còn loại thực phẩm phổ biến hay chế độ ăn uống nào được cho là có thể tác động lên quá trình trị ung thư phổi.

            Ăn những bữa ăn nhỏ nhiều lần trong ngày giúp duy trì năng lượng cơ thể thường xuyên. Bác sĩ của bạn có thể giúp bạn lên kế hoạch cho bữa ăn hàng ngày.

3. Những thực phẩm nên tránh:

            Cần phải tránh các loại đồ uống có cồn như rượu, bia trong quá trình điều trị bệnh, ngoài ra, trừ những chỉ định của bác sĩ còn lại các thực phẩm khác đều có thể sử dụng.

            Hãy cẩn trọng trong việc bổ sung vitamin và các khoáng chất bổ sung. Có một số vitamin và khoáng chất bổ sung có thể gây trở ngại cho việc điều trị, dó đó, không nên sử dụng tùy tiện, phải theo quy định của bác sĩ.

VIII. Phòng bệnh

1. Phòng tránh trong nghề nghiệp

Những chất gây ung thư đi vào cơ thể qua hô hấp có trong môi trường làm việc chính là nguyên nhân chính khiến cho tỷ lệ mắc ung thư phổi ngày càng tăng cao.

Khai thác mỏ quặng phóng xạ, nên thực hiện các biện pháp bảo vệ hiệu quả, giảm thiểu lượng bức xạ tiếp xúc với công nhân.

Đối với những công nhân làm việc trong môi trường rò rỉ hóa chất, cũng phải áp dụng những biện pháp bảo hộ hiệu quả, tránh hoặc giảm tối thiểu việc tiếp xúc với những yếu tố độc hại gây ung thư.

2. Bỏ thuốc lá

Độ tuổi bắt đầu hút thuốc, thời gian hút thuốc, số lượng điếu thuốc hút mỗi ngày, chủng loại thuốc lá... đều có mối liên quan chặt chẽ đến ung thư phổi. Tỷ lệ mắc ung thư phổi của người hút thuốc lá so với những người không hút cao hơn gấp 10 lần. Có thể thấy hút thuốc lá cũng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ung thư. Bỏ thuốc lá có thể giảm rõ rệt tỷ lệ mắc ung thư phổi. Do đó việc cần nhấn mạnh đầu tiên để phòng tránh ung thư phổi là bỏ thuốc lá, không hút thuốc chủ động và cũng tránh xa khói thuốc xung quanh.

3. Xây dựng thói quen ăn uống lành mạnh

Phòng tránh ung thư phổi nên bổ sung nhiều rau xanh, hoa quả tươi, đặc biệt là những thực phẩm có hàm lượng caroten, không chỉ có thể phòng bệnh hiệu quả mà còn rất tốt cho những bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, bệnh mạch vành...

4.  Phòng thông thoáng

Ô nhiễm không khí trong nhà gây ra bởi các vật liệu trang trí cũng góp phần vào nguyên nhân gây ung thư phổi. Do đó, để phòng tránh ung thư phổi, đồ vật trang trí nên sử dụng những nguyên liệu an toàn, hơn nữa không nên mới tu sửa xong đã ở ngay.

Chú ý bảo trì hệ thống thông gió trong nhà, cải thiện chất lượng hệ thống lưu thông không khí trong phòng.

5. Giảm thiểu khói dầu nhà bếp

Ngoài khói thuốc lá, khói dầu sinh ra trong quá trình nấu nướng cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh ung thư phổi. Một số thành phần có trong dầu thực vật ở nhiệt độ cao sẽ sản sinh ra các chất gây ung thư; nhiệt độ càng cao, lượng sản sinh ra càng nhiều. Hơn nữa, chúng ta lại thường xuyên ăn đồ chiên xào, có thói quen dùng nhiều dầu, sẽ làm nguy cơ này tăng cao hơn.

IX. Hỏi đáp:

Câu hỏi: Ho dai dẳng và đờm lẫn máu, có phải triệu chứng của ung thư phổi không?

Trả lời:

            Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh ung thư phổi là do khói thuốc lá (95% người mắc bệnh có liên quan đến thuốc lá). Người hút thuốc thụ động cũng có nguy cơ mắc bệnh.

            Triệu chứng sớm và thường gặp là ho dai dẳng, khạc đờm hoặc khạc ra máu, sút cân, sốt hoặc không sốt. Khi khối u đã gây xẹp phổi hoặc di căn ra màng phổi, triệu chứng khó thở xuất hiện.

           Để chẩn đoán bệnh, phải tiến hành chụp X-quang phổi, có khi phải chụp CT mới thấy rõ khối u và các hạch di căn trong trung thất. Ngoài ra, có thể soi phế quản và sinh thiết để xác định được loại tế bào.

           Có nhiều phương pháp điều trị ung thư phổi như phẫu thuật, chạy tia, hóa chất... nhưng tốt nhất là cắt bỏ khối u khi chưa di căn.

            Trường hợp nếu có các triệu chứng sớm như trên nên đi khám ngay để để BS tư vấn thêm và có hướng điều trị thích hợp. Nếu chậm trễ, bệnh sẽ vô phương cứu chữa.

X.  Địa chỉ khám chữa:

            Bệnh viện K

            Địa chỉ: 43 Quán Sứ - Hoàn Kiếm - Hà Nội

            Điện thoại: 043 8252143

            Wesite: www.benhvienk.com

            BV Ung bướu Hà Nội

            Địa chỉ: 42A , Phố Thanh Nhàn - Hai Bà Trưng - Hà Nội

            Điện thoại: (84-4) 38 211 297

           Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu BV Bạch Mai.

            BV Ung Bướu Tp.HCM

            Cơ sở 1: 3 Nơ Trang Long, Phường 7, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh

            Điện thoại: + Cơ sở 1: (08).38433021 + Cơ sở 2: (08).38417823

            Fax: (08).38412636

            Email: bvub@hcm.vnn.vn

            Cơ sở 2: (Khu Xạ Trị Gia Tốc): 6 Nguyễn Huy Lượng, Phường 14, Quận Bình Thạnh,                 TP. Hồ Chí Minh

            BV Chợ Rẫy

            Địa chỉ: 201B Nguyễn Chí Thanh, Quận 5, TP.HCM

            Điện thoại : (84-8) 38554137 - 38554138 - 38563534 - Fax : (84-8) 38557267

            Email : bvchoray@hcm.vnn.vn

            Bệnh Viện Phạm Ngọc Thạch.

            Địa chỉ: 120 Hùng Vương, F12, Q5

            Điện thoại: (08) 38550207- Fax: 38574264

I. Khái niệm :

            Ung thư phổi là một bệnh ung thư (ác tính) bắt nguồn từ các mô của phổi, các tế bào lót đường hô hấp. Ung thư phổi bắt nguồn từ khi các tế bào phổi bình thường trở nên bất thường, thường là sau khi một loạt các đột biến, và bắt đầu phân chia ra khỏi kiểm soát

            Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong những bệnh nhân ung thư ở nam giới. Ở Việt Nam theo số liệu ghi nhận tại một số vùng ung thư phổi đứng hàng đầu và chiếm 20% trong tổng số hàng trăm loại ung thư.

II. Các triệu chứng nhận biết :

            - Ho kéo dài, thở ngắn, ho có đờm lẫn máu và đau ngực cũng có thể là dấu hiệu chỉ điểm của ung thư phổi

            - Một thời gian sau bệnh nhân có thể gầy sút, mệt mỏi, thở nông, khàn giọng, khó nuốt, đau xương, thở khò khè và tràn dịch màng phổi.

            Cần chú ý rằng có khoảng 13% bệnh nhân không biểu hiện bất cứ một triệu chứng nào như trên khi khối u của họ được phát hiện.

III. Các xét nghiệm :

Có nhiều kỹ thuật được sử dụng để phát hiện ung thư phổi.

            - Chụp X quang lồng ngực.

            - Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực có thể xác định chính xác hơn vị trí của khối u, kích thước và biết được khối u đã phát triển ra ngoài phổi hay chưa.

            - Có thể chẩn đoán bằng cách sinh thiết, phương pháp sinh thiết thông thường nhất là dùng ống nội soi phế quản. Đưa một ống nhỏ, mềm, dẻo qua mũi hay miệng sau khi đã gây tê, đi qua khí quản vào phổi. Phương pháp này được sử dụng trên 80% bệnh nhân và 2/3 có kết quả sinh thiết dương tính.  Xét nghiệm đờm tìm tế bào ung thư chỉ có 1/3 số ca có kết quả dương tính. Nếu khối u ở rìa phổi hay ở xa phế quản thì nội soi phế quản hay xét nghiệm đờm có thể không phát hiện được. Hoặc dùng một kim nhỏ xuyên qua thành ngực vào vùng bất thường sau khi đã gây tê tại chỗ. Phương pháp này chẩn đoán được trên 90% bệnh nhân. Đôi khi cần thiết phải tiến hành sinh thiết thêm nếu các phương pháp trên không thành công. Những mẫu sinh thiết lấy được, được nhuộm và soi dưới kính hiển vi quang học.

IV. Những nguyên nhân gây ung thư phổi

            - Hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ung thư phổi. 90% bệnh nhân ung thư phổi do hút thuốc lá. Mặc dù còn 4% bệnh nhân bị ung thư phổi mà không hút thuốc, nhưng vài người trong số họ đã hít một số lượng đáng kể khói thuốc lá (hít khói của người hút thuốc lá). 90% bệnh nhân ung thư phổi đã hút hơn 10 điếu thuốc lá/ ngày trong 20 năm.

            - Những công nhân tiếp xúc với bụi silic có nguy cơ cao bị ung thư phổi. Nguy cơ này sẽ tăng lên nhiều lần nếu bệnh nhân có hút thuốc lá.

            - Những tiếp xúc nghề nghiệp khác liên quan tới ung thư phổi bao gồm tiếp xúc với quá trình luyện thép, ni-ken, crôm và khí than.

            - Tiếp xúc với tia phóng xạ có nguy cơ bị các bệnh ung thư trong đó có cả ung thư phổi. Những công nhân mỏ uranium, fluorspar và hacmatite có thể tiếp xúc với tia phóng xạ do hít thở không khí có chứa khí radon.

            - Ngoài ra,  nguy cơ ung thư phổi liên quan đến các chất gây ô nhiễm không khí. Các nghiên cứu gần đây thấy ung thư phổi có liên quan yếu tố gen.

V. Ung thư phổi di căn.

Ung thư phổi có thể di căn và nó thường di căn theo chính đường hô hấp ở trong cơ thể, có nghĩa là nó lan ra các phần khác ở trong phổi và tạo thành các khối u.

Các tế bào ung thư có thể đi qua đường máu và di căn qua đường bạch huyết đến các hạch bạch huyết. Ung thư phổi như vậy thì khả năng di căn của nó cao và nó có thể di căn đến các phủ tạng thông thường như là gan, xương, não. Và ở một bệnh nhân ung thư phổi khi mà đã di căn đến các phủ tạng khác thì người ta xếp đó vào giai đoạn 4, là giai đoạn muộn.

Vì vậy, khả năng chữa khỏi cho những người ở giai đoạn này là khó. Nhưng bệnh nhân vẫn cần phải được điều trị. Bệnh nhân được điều trị ở trong giai đoạn này người ta gọi là điều trị giảm nhẹ để nhằm mục đích kiểm soát và kéo dài cuộc sống của bệnh nhân, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chẳng hạn như các bệnh nhân này thường có những đau đớn do những tổn thương di căn gây ra thì người ta phải kiểm soát đau để làm cho bệnh nhân giảm đau hoặc chúng ta phải điều trị cho bệnh nhân để đề phòng những biến chứng có thể xảy đến với bệnh nhân ví dụ như di căn xương sẽ có thể dẫn đến gãy xương.

Vì vậy, người ta vẫn áp dụng những phương pháp điều trị hiện đại, đặc biệt là hóa chất để điều trị cho bệnh nhân nhưng không phải là chữa khỏi mà là kéo dài, để kiểm soát bệnh và để nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm nhẹ các đau đớn ở giai đoạn cuối.

VI. Các phương pháp điều trị

Phẫu thuật loại bỏ khối u:

            Có hiệu quả nhất khi khối u còn nhỏ và chưa có di căn. Bệnh nhân có thể trạng tốt để phẫu thuật. 20% bệnh nhân được điều trị theo phương pháp này. Những bệnh nhân được phẫu thuật lấy toàn bộ khối u có thời gian sống thêm lâu dài.

Điều trị tia xạ:

            Phương pháp này được áp dụng cho 35% bệnh nhân. Mục đích là phá hủy khối u khi nó còn nhỏ (thường có đường kính 6 cm) và không có di căn. Đối với những khối u lớn thì nó làm giảm sự phát triển của khối u. Phương pháp điều trị này kéo dài đời sống của bệnh nhân nhưng ít khi chữa khỏi bệnh.

Điều trị bằng hóa chất:

            Có tác dụng tốt ở hầu hết bệnh nhân ung thư phổi loại tế bào nhỏ và đôi khi ở những loại ung thư phổi khác. Những tiến bộ gần đây về hóa trị liệu đã làm giảm đáng kể những tác dụng phụ so với trước đây.

Điều trị hỗ trợ:

            - Chỉ áp dụng cho khoảng 1/3 bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn không điều trị được bằng các phương pháp kể trên, bao gồm chăm sóc bệnh nhân, điều trị triệu chứng và làm giảm đau.

            - Cần có một chế độ ăn thích hợp, nghỉ ngơi, chăm sóc về mặt y tế và giải trí đôi khi giúp ích cho bệnh nhân.

            Ở hầu hết các bệnh nhân ung thư, kết quả điều trị tốt nhất khi ung thư được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị mới bao gồm đưa chất đồng vị phóng xạ vào phế quản, điều trị bằng tia xạ, điều trị bằng laser, các thuốc hóa chất mới, những nghiên cứu sinh học phân tử đang được tiến hành và đã thu được một số kết quả.

VII. Chế độ dinh dưỡng:

1. Về kiêng kỵ trong ăn uống:

            - Trước hết, phải kiêng thuốc lá: Hút thuốc làm cho hàm lượng vitamin ở từng bộ phận của đường hô hấp xuống thấp, khiến chứng ung thư khuếch tán hoặc bệnh tình nặng thêm. Hơn nữa, thuốc lá là thứ tân nhiệt, chứa những tạp chất độc hại như nicotin, gây ra sự kích thích xấu đối với phổi và khí-phế quản, nhất là đối với những trường hợp đang ủ bệnh ung thư. Nó khiến niêm mạc đường hô hấp tăng tiết nhiều, đờm ngưng tích tụ không ngừng, đồng thời còn tăng thêm những chất gây ung thư.

             - Phải tùy theo triệu chứng và bệnh tình của từng người. Nếu triệu chứng chủ yếu là đờm nhiều, có thể căn cứ vào màu sắc của đờm, độ đặc của đờm và có dễ khạc ra hay không để quyết định kiêng kỵ những thứ gì.

            - Đờm trắng ở trạng thái bọt, dễ nhổ ra, kèm theo rêu lưỡi trắng và nhầy, hoặc sợ lạnh: Kiêng ăn các thứ dầu mỡ ngậy béo, quá bổ dưỡng như thịt mỡ, gà béo, vịt béo, tôm, cua, cá hồi, các hải sản tanh. Không uống các thứ lạnh, kiêng lạc, khoai lang vì chúng gây đờm, làm bệnh nặng thêm.

            - Nếu đờm vàng, tương đối đặc, khó khạc nhổ, kèm theo rêu lưỡi vàng và nhầy, nên chọn các thức ăn vừa hóa được đờm lại vừa có tác dụng thanh nhiệt như quả lê, đường phèn hầm củ cải, quả hồng... Kiêng ăn các thức ngậy béo, cay (hạt tiêu, bột hạt cải, bột cari, ớt, rượu), đồ hun nướng. Kiêng hồ đào, lạc.

            - Nếu trong đờm có lẫn máu hoặc khạc ra máu thì ngoài việc kiêng kỵ nghiêm ngặt các thức trên, bệnh nhân còn phải kiêng các thức thô ráp và cấm dùng đồ rán, nướng, quay, hun…

            - Nếu thể chất hư nhược, nên ăn uống các thứ ôn hòa, giàu dinh dưỡng mà dễ tiêu hóa như thịt lợn nạc, thịt bò hầm suông, cháo hạt sen và ý dĩ. Trong khi tẩm bổ cũng cần coi trọng vấn đề kiêng kỵ. Nếu bụng trướng, đại tiện lỏng, rêu lưỡi trắng và nhầy, phải dùng ít hoặc kiêng dùng sữa bò, đường, dưa muối, trái cây sống lạnh, dầu mỡ ngậy béo. Nếu miệng khát, người gầy, lưỡi đỏ, khạc ra máu thì cấm ăn các thức cay, động hỏa, hại âm. Nếu người hư nhược đến độ phải dùng các thuốc bổ như nhân sâm thì cần kiêng ăn cải củ, uống trà đặc.

            - Người bị ung thư phổi đã xạ hoặc hóa trị nếu thấy chán ăn hoặc tiêu chảy thì nên ăn uống thanh đạm, dùng các thứ tươi mới, không có dầu mỡ, ăn thứ bổ vừa phải. Việc không chú ý kiêng kỵ trong ăn uống chẳng những gây thêm phản ứng nặng sau khi điều trị bằng phóng xạ và hóa chất mà còn làm suy thoái công năng tỳ vị, khiến bệnh tình nặng hơn.

2. Những thực phẩm nên ăn:

            Trái cây giàu flavonoids, các sản phẩm sữa ít chất béo, thực phẩm có chứa lutein cao như rau bina, cải lá, cải xanh , cà chua và trà xanh… đó là tất cả những loại thực phẩm có thể giúp giảm nguy cơ phát triển ung thư phổi. Hãy sử dụng chúng trong bữa ăn hàng ngày của bạn nếu bạn đã được chẩn đoán có nguy cơ mắc căn bệnh này.

            Ngoài những loại thực phẩm đặc biệt này, không còn loại thực phẩm phổ biến hay chế độ ăn uống nào được cho là có thể tác động lên quá trình trị ung thư phổi.

            Ăn những bữa ăn nhỏ nhiều lần trong ngày giúp duy trì năng lượng cơ thể thường xuyên. Bác sĩ của bạn có thể giúp bạn lên kế hoạch cho bữa ăn hàng ngày.

3. Những thực phẩm nên tránh:

            Cần phải tránh các loại đồ uống có cồn như rượu, bia trong quá trình điều trị bệnh, ngoài ra, trừ những chỉ định của bác sĩ còn lại các thực phẩm khác đều có thể sử dụng.

            Hãy cẩn trọng trong việc bổ sung vitamin và các khoáng chất bổ sung. Có một số vitamin và khoáng chất bổ sung có thể gây trở ngại cho việc điều trị, dó đó, không nên sử dụng tùy tiện, phải theo quy định của bác sĩ.

VIII. Phòng bệnh

1. Phòng tránh trong nghề nghiệp

Những chất gây ung thư đi vào cơ thể qua hô hấp có trong môi trường làm việc chính là nguyên nhân chính khiến cho tỷ lệ mắc ung thư phổi ngày càng tăng cao.

Khai thác mỏ quặng phóng xạ, nên thực hiện các biện pháp bảo vệ hiệu quả, giảm thiểu lượng bức xạ tiếp xúc với công nhân.

Đối với những công nhân làm việc trong môi trường rò rỉ hóa chất, cũng phải áp dụng những biện pháp bảo hộ hiệu quả, tránh hoặc giảm tối thiểu việc tiếp xúc với những yếu tố độc hại gây ung thư.

2. Bỏ thuốc lá

Độ tuổi bắt đầu hút thuốc, thời gian hút thuốc, số lượng điếu thuốc hút mỗi ngày, chủng loại thuốc lá... đều có mối liên quan chặt chẽ đến ung thư phổi. Tỷ lệ mắc ung thư phổi của người hút thuốc lá so với những người không hút cao hơn gấp 10 lần. Có thể thấy hút thuốc lá cũng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ung thư. Bỏ thuốc lá có thể giảm rõ rệt tỷ lệ mắc ung thư phổi. Do đó việc cần nhấn mạnh đầu tiên để phòng tránh ung thư phổi là bỏ thuốc lá, không hút thuốc chủ động và cũng tránh xa khói thuốc xung quanh.

3. Xây dựng thói quen ăn uống lành mạnh

Phòng tránh ung thư phổi nên bổ sung nhiều rau xanh, hoa quả tươi, đặc biệt là những thực phẩm có hàm lượng caroten, không chỉ có thể phòng bệnh hiệu quả mà còn rất tốt cho những bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, bệnh mạch vành...

4.  Phòng thông thoáng

Ô nhiễm không khí trong nhà gây ra bởi các vật liệu trang trí cũng góp phần vào nguyên nhân gây ung thư phổi. Do đó, để phòng tránh ung thư phổi, đồ vật trang trí nên sử dụng những nguyên liệu an toàn, hơn nữa không nên mới tu sửa xong đã ở ngay.

Chú ý bảo trì hệ thống thông gió trong nhà, cải thiện chất lượng hệ thống lưu thông không khí trong phòng.

5. Giảm thiểu khói dầu nhà bếp

Ngoài khói thuốc lá, khói dầu sinh ra trong quá trình nấu nướng cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh ung thư phổi. Một số thành phần có trong dầu thực vật ở nhiệt độ cao sẽ sản sinh ra các chất gây ung thư; nhiệt độ càng cao, lượng sản sinh ra càng nhiều. Hơn nữa, chúng ta lại thường xuyên ăn đồ chiên xào, có thói quen dùng nhiều dầu, sẽ làm nguy cơ này tăng cao hơn.

IX. Hỏi đáp:

Câu hỏi: Ho dai dẳng và đờm lẫn máu, có phải triệu chứng của ung thư phổi không?

Trả lời:

            Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh ung thư phổi là do khói thuốc lá (95% người mắc bệnh có liên quan đến thuốc lá). Người hút thuốc thụ động cũng có nguy cơ mắc bệnh.

            Triệu chứng sớm và thường gặp là ho dai dẳng, khạc đờm hoặc khạc ra máu, sút cân, sốt hoặc không sốt. Khi khối u đã gây xẹp phổi hoặc di căn ra màng phổi, triệu chứng khó thở xuất hiện.

           Để chẩn đoán bệnh, phải tiến hành chụp X-quang phổi, có khi phải chụp CT mới thấy rõ khối u và các hạch di căn trong trung thất. Ngoài ra, có thể soi phế quản và sinh thiết để xác định được loại tế bào.

           Có nhiều phương pháp điều trị ung thư phổi như phẫu thuật, chạy tia, hóa chất... nhưng tốt nhất là cắt bỏ khối u khi chưa di căn.

            Trường hợp nếu có các triệu chứng sớm như trên nên đi khám ngay để để BS tư vấn thêm và có hướng điều trị thích hợp. Nếu chậm trễ, bệnh sẽ vô phương cứu chữa.

X.  Địa chỉ khám chữa:

            Bệnh viện K

            Địa chỉ: 43 Quán Sứ - Hoàn Kiếm - Hà Nội

            Điện thoại: 043 8252143

            Wesite: www.benhvienk.com

            BV Ung bướu Hà Nội

            Địa chỉ: 42A , Phố Thanh Nhàn - Hai Bà Trưng - Hà Nội

            Điện thoại: (84-4) 38 211 297

           Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu BV Bạch Mai.

            BV Ung Bướu Tp.HCM

            Cơ sở 1: 3 Nơ Trang Long, Phường 7, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh

            Điện thoại: + Cơ sở 1: (08).38433021 + Cơ sở 2: (08).38417823

            Fax: (08).38412636

            Email: bvub@hcm.vnn.vn

            Cơ sở 2: (Khu Xạ Trị Gia Tốc): 6 Nguyễn Huy Lượng, Phường 14, Quận Bình Thạnh,                 TP. Hồ Chí Minh

            BV Chợ Rẫy

            Địa chỉ: 201B Nguyễn Chí Thanh, Quận 5, TP.HCM

            Điện thoại : (84-8) 38554137 - 38554138 - 38563534 - Fax : (84-8) 38557267

            Email : bvchoray@hcm.vnn.vn

            Bệnh Viện Phạm Ngọc Thạch.

            Địa chỉ: 120 Hùng Vương, F12, Q5

            Điện thoại: (08) 38550207- Fax: 38574264

Tin tức
1
Hen phế quản
Hen phế quản là tình trạng viêm mạn tính ở đường thở, có sự tham gia của nhiều loại tế bào viêm và các thành phần của tế...
Hôm nay
Hen phế quản

Hen phế quản

Hen phế quản là tình trạng viêm mạn tính ở đường thở, có sự tham gia của nhiều loại tế bào viêm và c...
Ung thư phổi

Ung thư phổi

Tại Việt Nam ung thư phổi đứng hàng thứ nhất trong 10 loại ung thư thường gặp trên cả hai giới và là...
Đề xuất cho bạn